Khóa học Facebook Marketing tại Hoàng Nguyễn

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN VẬN

iWin 280 HD - Game Bài Chính Hiệu iWin

Game Bài đẳng cấp đã được chứng minh hỗ trợ mọi dòng máy, cộng đồng vui, cực khủng.

Dân vận là một hoạt động vận động, giác ngộ quần chúng nhân dân làm cho dân hiểu, dân biết, dân bàn, dân kiểm tra, dân quyết định trong quá tŕnh thực hiện các nhiệm vụ cách mạng do Đảng ta lănh đạo.

1.2. CƠ SỞ VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN VẬN

1.2.1. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chính Minh về dân vận


Cơ sở lí luận:

Tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có tư tưởng dân vận, h́nh thành và phát triển có nguồn gốc từ nhiều yếu tố, trên cơ sở kế thừa và phát triển biện chứng chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đoàn kết của dân téc, tinh hoa văn hoá nhân loại, đặc biệt là chủ nghĩa Mác - Lênin.

1.2.1.1. Tư tưởng và văn hoá truyền thông Việt Nam trong đó chủ nghĩa yêu nước giữ vị trí hàng đầu

Tư tưởng dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa và phát huy tinh thần “trọng dân”, “yêu dân”, “dựa vào dân” của ông cha ta trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước.

Bản “Tuyên ngôn Độc lập” của Lư Thường Kiệt có tác dụng “Dân vận” to lớn trong đấu tranh giữ nước và dựng nước. Bản Tuyên ngôn đă động viên toàn dân chống quân Tống xâm lược. Từ pḥng tuyến Như Nguyệt đă vọng lên lời thơ “Thần diệu” thôi thóc ḷng người đứng lên giữ nước:

       “Nam quốc sơn hà Nam đế cư,

       Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.

       Nh­ hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
       Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư" [3, tr.65].

Tổng kết các bài học lớn của cuộc kháng chiến chống quân Nguyên- Mông, Trần Quốc Tuấn nhận thấy rằng nguyên nhân lớn nhất của chiến thắng là “Vua tôi đồng tâm, anh em hoà thuận, cả nước góp sức”, và ông căn dặn: "Phải khoan thử sức dân để làm kế bền gốc sâu rễ, đó là thượng sách giữ nước”. Những lời tâm huyết đó đă thúc giục ḷng người đứng lên giết giặc lập công.

Lê Lợi, Nguyễn Trăi bằng chiến lược đánh vào ḷng người đă động viên toàn quân, toàn dân trên tư tưởng "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân", "chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân".

Tổng kết chiến thắng quân Minh, Nguyễn Trăi nhấn mạnh nguyên nhân thắng lợi là gắn bó với nhân dân, và vận động, giáo dục, phát huy sức mạnh của nhân dân:

"Nhân dân bốn cơi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phất phới

Tướng sĩ một ḷng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào" [3, tr.78].

Nh­ vậy, để tập hợp lực lượng, các chính quyền phong kiến đă biết phát huy tinh thần yêu nước của các tầng líp nhân dân, đứng dưới ngọn cờ cứu nước. Trước hoạ ngoại xâm, cứu nước là để cứu dân. Kẻ ngoại xâm “nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ” [3, tr.76], nên cứu nước và giành lại nền độc lập cho đất nước là để cứu dân. Sau khi thắng lợi, các triều đại phong kiến Việt Nam đều có ư định thực hiện "kế sâu rễ, bền gốc là khoan thử sức dân".

Đến đầu thế kỷ XX, các nhà yêu nước tiêu biểu như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh vượt qua hệ tư tưởng phong kiến, tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản, thực hiện một bước tiến về chất trong lịch sử tư tưởng dân téc nói chung và trong vấn đề vận động quần chúng nói riêng. Tuy nhiên, các nhà yêu nước nổi tiếng này chưa có phương pháp đánh giá và công tác vận động nhân dân một cách khoa học, nên phải chịu “trăm thất bại” mà không một thành công.

Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa truyền thống “yêu nước, trọng dân” của ông cha trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, do đó đă đưa công tác dân vận lên thành một khoa học.

1.2.1.2. Chủ nghĩa Mác - Lênin là nguồn gốc lư luận tư tưởng chủ yếu của sự h́nh thành tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, trong đó có tư tưởng dân vận

Hồ Chí Minh là nhà yêu nước Việt Nam đầu tiên đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Người coi chủ nghĩa Mác - Lênin không những là cái “cÈm nang thần kỳ", mà c̣n là "kim chỉ nam" và "là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới mục đích cuối cùng", đó là chủ nghĩa xă hội và chủ nghĩa cộng sản. Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin là đến với tri thức tiên tiến của thời đại, là tiếp thu sức mạnh và giá trị tinh thần của nhân loại.

Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rơ các đảng cộng sản đều phải làm công tác vận động nhân dân. Đó là một công tác lâu dài và phải kiên tŕ thực hiện.

Giai cấp công nhân phải làm công tác dân vận để giành lấy sự đồng t́nh, sự ủng hộ của đa số nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh cách mạng của ḿnh; và phải nhận thức rằng, mỗi thời kỳ cách mạng khác nhau phải có những h́nh thức, nội dung công tác dân vận khác nhau.

Nghiên cứu lịch sử đấu tranh giai cấp ở Pháp năm 1848, C. Mác và Ph. Ăngghen viết trong lời nói đầu tác phẩm “Đấu tranh giai cấp ở Pháp từ 1848 đến 1850” rằng:

Đă qua rồi, thời kỳ những cuộc đột kích, thời kỳ những cuộc cách mạng do những nhóm thiểu số tự giác cầm đầu những quần chúng không tự giác tiến hành. Ở nơi nào mà vấn đề đặt ra là phải cải tạo hoàn toàn chế dé xă hội, th́ bản thân quần chúng phải tự ḿnh tham gia vào công cuộc cải tạo Êy, phải tự ḿnh hiểu rơ v́ sao phải tiến hành đấu tranh, v́ sao ḿnh phải đổ máu và hy sinh tính mạng [42, tr.775].

Như vậy, theo C.Mác và Ph. Ăngghen, muốn thắng lợi, các cuộc cách mạng xă hội không phải do những cá nhân, những nhóm người nhỏ bé cầm đầu, những quần chúng không tự giác tiến hành, mà phải do các chính đảng có lư luận tiên phong của các giai cấp lănh đạo; các đảng đó phải biết thuyết phục, giác ngộ và tập hợp đông đảo quần chúng, huấn luyện quần chúng dám xả thân đấu tranh.

Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rơ rằng sức mạnh của quần chúng nhân dân là vô địch; cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Tuy nhiên, quần chúng nhân dân chỉ có thể phát huy được sức mạnh của ḿnh khi họ được tổ chức lại:

Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Mục đích trước mắt của những người cộng sản cũng là mục đích trước mắt của tất cả các đảng vô sản khác: tổ chức những người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyền” [41, tr.615].

Phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin khẳng định rằng:

1) Không một phong trào cách mạng nào mà lại vững chắc được nếu không có một tổ chức ổn định và duy tŕ được tính liên tục gồm những người lănh đạo; 2) Càng có đông đảo quần chúng được thu hót tự phát vào cuộc đấu tranh, tạo thành cơ sở cho phong trào và tham gia phong trào, th́ càng cấp thiết phải có một tổ chức như thế và tổ chức Êy lại càng phải vững chắc (nếu không th́ bọn mị dân sẽ dễ lôi cuốn được những tầng líp lạc hậu trong quần chúng); một tổ chức như thế th́ chủ yếu phải gồm những người lấy hoạt động cách mạng làm nghề nghiệp của ḿnh [35, tr.158-159].

V́ vậy, V.I.Lênin nhấn mạnh "hăy cho chúng tôi một tổ chức những người cách mạng, và chúng tôi sẽ đảo ngược nước Nga lên!" [35, tr.162].

Muốn có sức mạnh phải thống nhất ư chí, phải đoàn kết, phải có tổ chức. V́ thế trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C. Mác và Ph. Ăngghen viết: “VÔ SẢN TẤT CẢ CÁC NƯỚC, ĐOÀN KẾT LẠI!” [41, tr.646]. Vận dụng tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăngghen vào thời đại của ḿnh - thời đại đế quốc chủ nghĩa và cách mạng vô sản, Lênin kêu gọi mở rộng khối đại đoàn kết của giai cấp công nhân với các dân téc bị áp bức trên toàn thế giới.

Về phương hướng công tác dân vận, chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rơ cần phải dùng phương pháp nêu gương và giúp đỡ; trong công tác dân vận th́ những tấm gương, những mô h́nh thực tiễn cụ thể có tác dụng cổ vũ, động viên, hướng dẫn quần chúng nhân dân rất to lớn; đối với quần chúng nhân dân không được dùng mệnh lệnh áp đặt ư chí chủ quan của cá nhân lănh đạo đối với họ.

V. I. Lênin rất coi trọng công tác thuyết phục, giáo dục và nêu gương đối với quần chúng nhân dân. Người đề ra nhiệm vụ hàng đầu cho các đảng cộng sản là phải “thuyết phục cho đa số nhân dân thấy được sự đúng đắn của cương lĩnh và sách lược của ḿnh” [37, tr.208]. Nhiệm vụ chiến lược quan trọng trong thời kỳ giành được chính quyền, xây dựng chủ nghĩa xă hội là quản lư, nhưng “Chúng ta phải suy nghĩ kỹ rằng muốn quản lư được tốt, th́ ngoài cái tài biết thuyết phục, biết chiến thắng trong cuộc nội chiến, c̣n cần phải biết tổ chức trong lĩnh vực thực tiễn” [37, tr.210]. Đồng thời, V. I. Lênin phê phán những đảng viên, cán bé, những tổ chức đảng không gương mẫu, không dũng cảm hoặc “rất Ưt dùng những điển h́nh, những tấm gương cụ thể, sinh động, lấy trong mọi lĩnh vực của đời sống, để giáo dục quần chúng” [38, tr.109]; Người yêu cầu lấy kinh nghiệm, lấy ví dụ thực tế để chứng minh cho quần chúng thấy rơ sự cần thiết của công việc đang làm và coi đó là một biện pháp có hiệu quả.

Để vận động quần chúng, V. I. Lênin khuyến khích mở rộng dân chủ, công khai làm cho mỗi người dân biết công việc của Đảng, của Nhà nước. Đây là phương pháp vận động quần chúng có tác dụng nâng cao tính chủ động, tính tích cực sáng tạo, cách mạng của quần chúng. V. I. Lênin viết: “Một nước mạnh là nhờ ở sự giác ngộ của quần chúng. Nước mạnh là khi nào quần chúng biết rơ tất cả mọi cái quần chúng có thể phán đoán được về mọi cái, và đi vào hành động một cách có ư thức” [36, tr.23].

V. I. Lênin rất trân trọng ư kiến của quần chúng; xem tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân là những nguồn thông tin cực kỳ quư báu để h́nh thành chính sách. V́ vậy, Người đề nghị t́m mọi cách để duy tŕ, phát triển và mở rộng hội nghị công nhân, nông dân ngoài Đảng, v́ thông qua những hội nghị như thế, Đảng có thể “nhận xét tâm trạng của quần chúng, gần gũi họ, giải quyết những nhu cầu của họ, giao cho những phần tử tốt nhất, trong số họ đảm nhiệm những chức vụ trong bộ máy nhà nước..” [39, tr.39].

Như vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin là thế giới quan khoa học, là cơ sở phương pháp luận giúp Hồ Chí Minh tổng kết, tiếp thu có chọn lọc các học thuyết tư tưởng của nhân loại, đường lối của cách mạng thế giới. Với ư nghĩa đó, chủ nghĩa Mác - Lênin là cơ sở, là nguồn gốc lư luận chủ yếu nhất để Người nâng cao truyền thống yêu nước của dân téc theo phương hướng “Giải phóng dân téc bằng con đường cách mạng vô sản”, h́nh thành và hoàn chỉnh tư tưởng về con đường cách mạng Việt Nam nói chung, về tư tưởng dân vận nói riêng để vận động, giáo dục, tổ chức nhân dân hành động dưới ngọn cờ của Đảng nhằm giải phóng dân téc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.

* Cơ sở thực tiễn:

Điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử của nước ta đă tạo nên mối quan hệ đoàn kết, gắn bó chặt chẽ với nhau trong chống chọi với thiên nhiên c̣ng nh­ trong chống giặc ngoại xâm của cộng đồng người Việt. Lịch sử đă chứng minh truyền thống đoàn kết, ư chí độc lập, tù chủ, tự lực, tự cường của dân téc ta đă được hun đúc qua hàng ngh́n năm dựng nước và giữ nước. Hồ Chí Minh là người am hiểu sâu sắc lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân téc; đă nhận thức được lịch sử Việt Nam thời phong kiến, tuy chỉ là những việc đấu tranh thay đổi triều đại nhưng đă ghi lại những tấm gương tâm huyết dựng nước và giữ nước của cha ông ta. Khi đất nước bị giặc xâm lăng, “Vua tôi đồng ḷng, anh em hoà thuận, cả nước góp sức” và “Khoan thử sức dân để làm kế sâu rễ, bền gốc là thượng sách giữ nước”. Hội nghị Diên Hồng đời Nhà Trần là một điển h́nh của truyền thống đoàn kết toàn dân téc nhằm tập hợp mọi lực lượng, thu phục tướng sĩ, nhân tài, phát huy sức mạnh của cả dân téc để đánh đuổi kẻ thù. Truyền thống này được Hồ Chí Minh kế thừa và phát huy lên một tầm cao mới, trong thời đại mới.

Năm 1858, thực dân Pháp tấn công bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), mở đầu cuộc vũ trang xâm lược và áp bức của chúng đối với dân téc ta. Chúng đă thi hành nhiều chính sách nguy hiểm và bằng mọi thủ đoạn độc ác, đê hèn để bóc lột nhân dân ta, đặc biệt là chính sách “chia để trị”. Với chính sách đó kẻ thù ḥng phân biệt, tách rời giữa đồng bào miền xuôi với đồng bào miền ngược, giữa đồng bào không theo đạo với đồng bào theo đạo… Nguy hiểm hơn, chóng đă chia đất nước ta thành ba miền: Bắc - Trung - Nam; mỗi miền có một chế độ cai trị khác nhau nhằm tập trung phá hoại khối đại đoàn kết dân téc, một truyền thống có từ lâu đời của chúng ta. Thực tế đó đặt ra cho cách mạng nước ta phải thực hiện chiến lược đoàn kết để tập hợp mọi lực lượng yêu nước có thể đoàn kết được, không phân biệt đảng phái, giai cấp, giàu nghèo thành một mặt trận thống nhất, tạo thành sức mạnh của toàn dân téc. Có vậy, mới giành được thắng lợi, đưa cách mạng tiến lên.

Ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, phong trào yêu nước Việt Nam đă diễn ra rất mạnh mẽ. Từ phong trào Cần Vương, Yên Thế cuối thế kỷ XIX, đến các phong trào Đông Du, Duy Tân đầu thế kỷ XX, các thế hệ người Việt Nam yêu nước nối tiếp nhau đứng dậy chống ngoại xâm, nhưng đều thất bại. Hồ Chí Minh nhận thấy được những hạn chế của các nhà yêu nước trong chủ trương tập hợp lực lượng và trong việc nắm bắt những đ̣i hỏi khách quan của lịch sử dân téc trong giai đoạn này. Đây cũng chính là lư do, là điểm xuất phát để Hồ Chí Minh quyết tâm ra nước ngoài t́m chân lư cách mạng, rồi trở về nước cùng với nhân dân cứu nước.

* Thực tiễn thế giới:

Trong hành tŕnh t́m đường cứu nước, Hồ Chí Minh khảo sát nhiều nước tư bản chủ nghĩa và nhiều nước thuộc địa, phụ thuộc ở hầu khắp các châu lục. Cuộc khảo nghiệm đó đă giúp Người nhận ra một sự thật là: Giới cần lao ở các dân téc thuộc địa tiềm Èn một sức mạnh vĩ đại; song cuộc đấu tranh của họ chưa đi đến thắng lợi, bởi v́ các dân téc bị áp bức chưa biết tập hợp lại, chưa biết đoàn kết chặt chẽ với giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở “chính quốc”, chưa có tổ chức và chưa biết tổ chức. Hồ Chí Minh nghiên cứu một cách thấu đáo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và những bài học kinh nghiệm quư báu mà cuộc cách mạng này đem lại cho phong trào cách mạng thế giới; đặc biệt là bài học về huy động, tập hợp lực lượng quần chúng công nông đông đảo để giành chính quyền cách mạng.

Đối với phong trào cách mạng của các nước thuộc địa và phụ thuộc, Hồ Chí Minh đặc biệt chú ư đến phong trào cách mạng ở Trung Quốc và Ên Độ là hai nước có thể đem lại cho Việt Nam nhiều bài học rất bổ Ưch về tập hợp các lực lượng yêu nước, tiến bộ để tiến hành cách mạng, như kinh nghiệm tập hợp lực lượng của Tôn Dật Tiên trong Cách mạng Tân Hợi (1911) ở Trung Quốc và của lănh tụ đấu tranh đ̣i độc lập Mahatma Ganđi ở Ên Độ.

1.2.2. Quá tŕnh h́nh thành phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của ḿnh, Hồ Chí Minh đă dành không Ưt tâm sức của ḿnh vào công việc to tát, vĩ đại và hệ trọng bậc nhất là vận động, tổ chức và lănh đạo quần chúng làm cách mạng. Lư luận Dân vận của Hồ Chí Minh hoà làm một với thực hành công tác dân vận, một cuộc thực hành bền bỉ kéo dài trong suốt cuộc đời của Người. Tư tưởng dân vận của Người được h́nh thành, phát triển và hoàn thiện gắn liền với quá tŕnh hoạt động cách mạng của Người; gắn liền với quá tŕnh phát triển, thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

1.2.2.1 Thời kỳ thơ Êu đến năm 1920: tham gia hoạt động yêu nước và h́nh thành tư tưởng yêu nước, tư tưởng dân vận

Trong thời kỳ này, Hồ Chí Minh tiếp thu truyền thống yêu nước và ḷng nhân ái từ gia đ́nh và quê hương. Tại quê hương, Hồ Chí Minh được khai tâm bằng chữ Hán, hấp thụ tinh thần yêu nước bất khuất của phong trào chống Pháp, cách đối nhân xử thế, nhân nghĩa thuỷ chung, khí khái của các nhà nho yêu nước. Tại Huế (1895 - 1901 và 1906 - 1909), Hồ Chí Minh học được kiến thức về tự nhiên, xă hội, bước đầu tiếp xúc với văn minh phương Tây.

Thời kỳ này, Hồ Chí Minh cũng đă chứng kiến cảnh đàn áp dă man của thực dân Pháp đối với những người yêu nước Việt Nam; cảnh sống cơ cực, đói rách của nhân dân lao động; cuộc sống xa hoa của bọn thực dân Pháp và quan lại tay sai. Hồ Chí Minh tham gia phong trào biểu t́nh chống thuế của nhân dân Trung Kỳ, thấy được thất bại của phong trào Đông Du (1906 - 1908) do Phan Bội Châu tổ chức, lănh đạo và phong trào “Đông kinh Nghĩa thục”(1907).

T́m hiểu nguyên nhân thất bại của các phong trào yêu nước lóc bấy giê, Hồ chí Minh nhận xét như sau: chủ trương dùa vào Nhật để đánh Pháp của Phan Bội Châu, “Điều đó rất nguy hiểm, chẳng khác ǵ đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau” [69, tr.13]; chủ trương của Phan Chu Trinh dùa vào Pháp để “Duy Tân” đất nước “chẳng khác ǵ đến xin giặc rủ ḷng thương” [69, tr.12]; c̣n cuộc khởi nghĩa Yên Thế của Hoàng Hoa Thám “C̣n nặng cốt cách phong kiến” [69, tr.13].

Khi bị đuổi học khỏi trường Quốc học Huế, Nguyễn Tất Thành vào dạy học ở trường Dục Thanh (Phan Thiết) (9/1910 - 2/1911). Trong thời gian này anh đă phổ biến cho học sinh những thơ ca yêu nước, nh­ bài “Ca hớt tóc”:

        Phen này cắt tóc đi tu,

        Tông kinh độc lập ở chùa Duy Tân,

        Đêm ngày khấn vái chuyên cần,

        Cầu cho Ưch nước lợi dân mới là,

        Quyết tu sao phỉ chí dân nhà,

        Tu sao độ được nước ta phú cường,

        Ḷng thành thắp một tuần nhang,

        Nam mô phật tổ hồng bàng chơng tri [5, tr.38].

Ngày 5/6/1911 anh thanh niên Nguyễn Tất Thành ra nước ngoài t́m đường cứu nước, cứu dân. Khi rời bến Nhà Rồng, Nguyễn Tất Thành có một tâm nguyện rằng: “Tôi muốn đi ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta” [69, tr.13].

Trong thời gian làm việc trên tàu buôn của Pháp, Người gia nhập Hội viên Công hội, Hội những người thuỷ thủ Việt Nam ở nước ngoài. Năm 1917, Hồ Chí Minh trở lại Pháp - mét trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá lớn ở Châu Âu lóc bấy giê, sau đó tham gia Đảng Xă hội Pháp (1918). Năm 1919, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước gửi đến Hội nghị Vecxây Bản Yêu sách của nhân dân An Nam, gồm 8 điểm đ̣i tự do dân chủ đơn sơ, đ̣i có tiếng nói riêng của người bản xứ trong Quốc hội Pháp, đ̣i thay thế chế độ sắc lệnh bằng các đạo luật.... Mặc dù không được Hội nghị Vecxây xem xét, song bản yêu sách đă có tiếng vang lớn. Từ thực tế này, Hồ Chí Minh đi đến kết luận về Kế hoạch 14 điểm của Tổng thống Mỹ Uyn-Xơn rêu rao về quyền tự quyết dân téc: “Chủ nghĩa Uyn - Xơn chỉ là tṛ bịp lớn”, và “muốn được giải phóng, các dân téc chỉ có thể trông cậy vào ḿnh, trông cậy vào lực lượng của bản thân ḿnh” [69, tr.33].

Trong thời gian này, Hồ Chí Minh qua nhiều nước ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ và châu Âu, chú ư xem xét t́nh h́nh các nước, suy nghĩ về thực tế đang diễn ra ở các nước đó và nhận định rằng: trên thế giới này chỉ có hai giống người: bị bóc lột và bóc lột mà thôi. Người kết luận giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở đâu cũng là bạn; chủ nghĩa đế quốc ở đâu cũng là thù. Từ đó đă làm nảy nở ở Người t́nh cảm và ư thức giai cấp cũng như t́nh đoàn kết quốc tế. Người cũng đă t́m hiểu các cuộc cách mạng lớn trên thế giới, khảo sát cuộc sống, t́nh cảnh của nhân dân bị áp bức và ảnh hưởng về con đường Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, một cuộc cách mạng đă thành công đến nơi, v́ “Cách mạng rồi quyền giao cho dân chúng số nhiều”. Bằng những hoạt động tích cực Êy, Hồ Chí Minh đă đi trước một đoạn đường khá thành công của công tác dân vận.

Năm 1920, đọc Luận cương của Lênin về vấn đề dân téc và vấn đề thuộc địa, Hồ Chí Minh t́m thấy con đường chân chính cho sự nghiệp cứu nước, t́m thấy lực lượng cách mạng hùng hậu cho thắng lợi của cách mạng thuộc địa. Tháng 12/1920, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 18 Đảng Xă hội Pháp họp tại thành phố Tua, Hồ Chí Minh bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế III . Tiếp đó, Người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên. Sự kiện đó đánh dấu bước chuyển biến về chất trong nhận thức tư tưởng và lập trường chính trị của Người. Từ đây, khát vọng giải phóng dân téc của Người được soi sáng bởi một hệ tư tưởng cách mạng và khoa học. Đó là chủ nghĩa Mác - Lênin.

1.2.2.2. Thời kỳ từ năm 1921 đến năm 1930: h́nh thành cơ bản tư tưởng về con đường cách mạng Việt Nam và tư tưởng dân vận

Thời kỳ này Hồ Chí Minh vừa tiếp tục hoạt động cách mạng, vừa đi sâu nghiên cứu tư tưởng Mác- Lênin, từng bước xây dựng tư tưởng, chiến lược, sách lược, phương pháp và lực lượng cách mạng cho sự nghiệp giải phóng dân téc Việt Nam. Năm 1921, Hồ Chí Minh cùng một số chiến sỹ cách mạng ở nhiều nước lập ra tổ chức “Hội Liên hiệp thuộc địa” và xuất bản báo Le Paria. Tháng 12/1921, theo kiến nghị của Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Pháp thành lập Ban Nghiên cứu thuộc địa. Hồ Chí Minh được cử làm trưởng Tiểu ban nghiên cứu Đông Dương.

 Năm 1923, trong bức "Thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp” trước khi rời nước Pháp, Nguyễn Ái Quốc viết: “Chúng ta phải làm ǵ?

Chóng ta không thể đặt vấn đề Êy một cách máy móc.

Điều đó tuỳ thuộc vào hoàn cảnh của mỗi dân téc chúng ta.

Đối với tôi, câu trả lời đă rơ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập” [43, tr.192]. Những lời của Người trong bức thư ngắn gọn nêu trên cho thấy tư tưởng, quan điểm của Người với những nội dung hết sức rơ ràng cụ thể về cuộc vận động quần chúng làm cách mạng, từ giáo dục, tuyên truyền, tổ chức, tập hợp lực lượng và thực hành tranh đấu. Ở đây có hai điểm:     1) Phải gắn bó mật thiết với quần chúng, sống và tranh đấu cùng quần chúng; 2) Đoàn kết quần chúng.      

*Tư tưởng dân vận của Hồ Chí Minh ở thời kỳ này định hướng cho cách mạng thuộc địa. Sự định hướng đó thể hiện ở chỗ: “Giải phóng dân téc bằng con đường cách mạng vô sản”. Đánh giá sức mạnh của nhân dân thuộc địa, Người viết:

Ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của bọn thực dân ḷng tham không đáy, họ sẽ h́nh thành một lực lượng khổng lồ, và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn [43, tr.36].

Trong những năm 1925-1927, Hồ Chí Minh hoạt động Quảng Châu (Trung Quốc). Ở đây, Người vận động, tổ chức Hội Việt Nam Thanh niên cách mạng, ra báo Thanh niên và viết tác phẩm “Đường Kách mệnh”, mở các líp huấn luyện chính trị đào tạo cán bộ rồi đưa họ về nước hoạt động. Trong “Đường Kách mệnh”, Hồ Chí Minh nói rơ mục đích “V́ sao phải viết sách này”. Người viết:

5. Mục đích sách này là để nói cho đồng bào ta biết rơ: (1) V́ sao chóng ta muốn sống th́ phải cách mệnh. (2) V́ sao cách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc một hai người. (3) Đem lịch sử cách mệnh các nước làm gương cho chóng ta soi. (4) Đem phong trào thế giới nói cho đồng bào ta rơ. (5) Ai là bạn ta? Ai là thù ta? Cách mệnh th́ phải làm thế nào?

6. Sách này muốn nói cho vắn tắt, dễ hiểu, dễ nhớ. Chắc có người chê rằng văn chương cụt quằn. Vâng ! Đây nói việc ǵ th́ nói rất giản tiện, mau mắn, chắc chắn như 2 lần hai là 4, không tô vẽ trang hoàng ǵ cả.

Sách này chỉ ước ao sao đồng bào xem rồi th́ nghĩ lại, nghĩ rồi th́ tỉnh dậy, tỉnh rồi th́ đứng lên đoàn kết nhau mà làm cách mệnh.

Văn chương và hy vọng sách này chỉ ở trong hai chữ “Cách mệnh! Cách mệnh!! Cách mệnh !!! [44, tr.262].

Đây là cách đặt vấn đề xuất phát từ quan điểm thực tiễn rất tiêu biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Quan điểm này là nền tảng của dân vận, của khoa học chính trị vận động quần chóng.

Tác phẩm “Đường Kách mệnh” là ngọn cờ chỉ đạo; là bước chuẩn bị rất cơ bản về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sù ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Từ 6/1 đến 7/2/1930, Hồ Chí Minh chủ tŕ Hội nghị Hợp nhất các tổ chức cộng sản trong nước, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam và các đoàn thể cách mạng Việt Nam như Thanh niên Cộng sản Đoàn, Hội Phụ nữ, Công hội, Hội Cứu tế đỏ, Hội Nông dân và Hội Phản đế đồng minh. Hội nghị Hợp nhất đă thông qua “Chánh cương vắn tắt của Đảng”, “Sách lược vắn tắt của Đảng”, “Chương tŕnh tóm tắt của Đảng” và “Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do Hồ Chí Minh khởi thảo là bản cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Văn kiện này đă thể hiện sự nhận thức sâu sắc và đúng đắn của Hồ Chí Minh và của Đảng ta về nhiều vấn đề cơ bản nhất của cách mạng; trong đó có vấn đề dân vận.

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, Hồ Chí Minh c̣n viết "Lời kêu gọi"; trong đó, Hồ Chí Minh phân tích t́nh h́nh thế giới, t́nh h́nh trong nước và nêu lên đường lối, mục tiêu trước mắt và lâu dài của cách mạng Việt Nam, cổ vũ các tầng líp nhân dân đứng lên đấu ranh dưới ngọn cờ cứu nước của Đảng Cộng sản Việt Nam để giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc.


0 comments:
Đăng nhận xét