những quy định chung về quyền thừa kế

Rate this post



– Quyền thừa kế được hiểu là một chế định pháp luật dân sự (chế định thừa kế) bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành quy định về thừa kế, về việc bảo vệ và điều chỉnh, chuyển tài sản của người đã chết cho những người còn sống.

Quyền thừa kế của cá nhân là quyền dân sự được pháp luật ghi nhận bao gồm quyền hưởng thừa kế và quyền để lại thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật. Chính vì vậy khái niệm quyền thừa kế của cá nhân như sau: Quyền thừa kế của cá nhân là quyền để lại tài sản của mình theo di chúc hoặc cho những người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trong trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 81 của Bộ luật dân sự.
Trong trường hợp những người được hưởng thừa kế di sản của nhau mà chết cùng một thời điểm hoặc được coi chết cùng một thời điểm không xác định được người nào chết trước, chết sau thì những người đó không được hưởng di sản thừa kế của nhau, phần di sản của người nào sẽ do những người thừa kế của người đó hưởng. Chẳng hạn: Ông A và bà B là vợ chồng hợp pháp có 3 người con chung là C, D và E; cha mẹ đẻ của ông A còn sống, cha mẹ đẻ của bà B đã chết. Ông A và bà B chết trong tai nạn giao thông (chết cùng thời điểm) nên không được hưởng di sản của nhau. Do vậy, phần di sản của ông A do cha mẹ đẻ và 3 người con hưởng (5 suất), phần di sản của bà B do 3 người con hưởng (3 suất), nếu ông bà không để lại di chúc.
Di sản thừa kế bao gồm tài sản riêng của người chết: thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu tiêu dùng, tư liện sản xuất,… không hạn chế về số lượng và giá trị (trừ những tài sản pháp luật quy định không thể thuộc sở hữu tư nhân). Đối với tài sản riêng của vợ hoặc chồng được xác định căn cứ vào các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình
Phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác: Trong trường hợp nhiều người được thừa kế, được tặng cho một tài sản hay nhiều người cùng nhau góp vốn để cùng sản xuất kinh doanh,…. được xác định là sở hữu chung đối với tài sản. Khi một người trong các chủ sở hữu đó đối với tài sản chung này chết, thì phần tài sản của người đó trong tài sản chung này được coi là di sản thừa kế. Đối với tài sản chung hợp nhất của vợ chồng thì không phân định được phần cụ thể giữa vợ và chồng. Trong trường hợp một bên chết trước thì việc phân chia tài sản chung căn cứ vào các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc khi một bên vợ hoặc chồng chết trước thì một nửa tài sản sẽ được xác định là di sản để chia theo pháp luật về thừa kế (trừ trường hợp xác định được công sức đóng góp của vợ hoặc chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản chung của vợ chồng). Đối với tài sản chung giữa cha mẹ và các con tùy thuộc vào sự đóng góp cụ thể của các thành viên để xác định.
Bên cạnh việc hưởng quyền tài sản pháp luật quy định người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại trong phạm vi di sản như nghĩa vụ trả nợ, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại,…
Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế (Ông A chết ngày 17.01.1999 thì thời hiệu khởi kiện tính từ ngày 17.01.1999 đến hết ngày 16.01.2009). Đối với trường hợp người  chết còn để lại các nghĩa vụ tài sản (nợ, bồi thường thiệt hại) thì những người thừa kế phải thanh toán trong phạm vi di sản, thời hiệu khởi kiện là ba năm kể từ thời điểm mở thừa kế (ông A chết có nợ ông B 30 triệu đồng, ông B có quyền thời kiện yêu cầu con ông A phải thực hiện nghĩa vụ là 3 năm từ thời điểm ông A chết)

Trước:
Sau:

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Bạn đang xem những quy định chung về quyền thừa kế