khái niệm quần thể

Rate this post



Khả năng tồn tại của các cá thể trong quần thể thì khác nhau. Một số có thể sống hàng ngàn năm, một số khác chỉ tồn tại khi di chuyển sang nơi khác. Các cá thể có ý nghĩa về mặt sinh thái vì chúng cùng trải qua một chu kỳ sống, bị chi phối bởi các quá trình sinh thái của quần thể.

Các thành phần chính của một hệ thống quần thể là cá thể, nguồn tài nguyên (thức ăn, nơi cư trú, nơi làm tổ, không gian …), kẻ thù (các động vật ăn thịt, ký sinh trùng, vi khuẩn gây bệnh …), môi trường xung quanh như không khí (nước, đất), nhiệt độ, thành phần của môi trường, cũng như khả năng thay đổi các tính chất này theo thời gian và không gian.
Các yếu tố trong quần thể:
Mật độ: Tổng số cá thể ghi nhận được trên một đơn vị diện tích hay thể tích.
Mật độ riêng. Mật độ được lưu ý không phải chỉ vì tính chất của loài mà trong thực tiễn nó còn có thể tạo ra những ảnh hưởng đến môi trường. Ví dụ như rầy nâu ở mật độ 2-10 con/ha, chúng có ảnh hưởng không đáng kể đối với lúa, nhưng ở mật độ >200 con/ha thì chúng có ảnh hưởng xấu đối với lúa.
Sự tăng trưởng của quần thể: phụ thuộc vào sự sinh sản và sự tử vong của loài. Ngoài ra còn một số yếu tố bên ngoài như sự di cư, sự du nhập. Sự tăng trưởng được biểu diễn bằng đường cong tăng trưởng dạng chữ S (ở nấm men Sacharomyces hoặc quần thể ruồi Mora macrocarpa) – số lượng cá thể tăng trong một khoảng thời gian nhất định, sau đó không tăng nữa dù có tăng chất dinh dưỡng hoặc nhiệt độ. Sự tăng trưởng của quần thể còn có dạng chữ J, biểu thị sự tăng trưởng của quần thể theo số mũ.

Các cá thể trong quần thể thường phân bố thành 3 nhóm: phân bố đồng đều, phân bố ngẫu nhiên và phân bố thành nhóm.

Trước:
Sau:

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Bạn đang xem khái niệm quần thể