Tác động của một số yếu tố sinh thái lên sinh vật

Rate this post



4.1. Ánh sáng
Ánh sáng giúp cho cây xanh thực hiện chức năng quang hợp. Mỗi loài thực vật có cường độ quang hợp cực đại ở cường độ ánh sáng khác nhau.
Người ta phân ra hai nhóm thực vật: cây ưa sáng (gồm những thực vật có cường độ quang hợp cực đại khi cường độ chiếu sáng lớn, như cây gỗ ở rừng thưa, cây bụi ở savan, bạch đàn, phi lao, lúa, đậu phọng …); cây ưa bóng (gồm những thực vật có cường độ quang hợp cực đại khi cường độ chiếu sáng thấp, như lim, vạn niên thanh, lá dong, ràng ràng …).
Ánh sáng tác động rõ rệt đến sự sinh sản của thực vật. Thời gian chiếu sáng càng dài thì cây ở các vùng ôn đới (cây dài ngày) phát triển nhanh, ra hoa sớm; ngược lại phần lớn các cây nhiệt đới (cây ngắn ngày) ra hoa muộn.
Ánh sáng đã tạo nên các đặc điểm thích nghi về hình thái, giải phẩu và sinh lý ở các sinh vật.

 4.2.Nhiệt độ

Sự sống có thể tồn tại trong khoảng nhiệt độ từ –200oC  +100oC, nhưng đa số loài chỉ tồn tại và phát triển trong khoảng từ 0oC đến 50oC. Mỗi loài sinh vật chỉ có thể sinh sản ở một nhiệt độ tối thiểu gọi là nhiệt độ nền và phát triển trong một biên độ nhiệt nhất định. Vì vậy, có sinh vật rộng nhiệt, sinh vật hẹp nhiệt, có động vật đẳng nhiệt, động vật biến nhiệt.
Nhiệt độ trên trái đất phụ thuộc vào năng lượng mặt trời và thay đổi theo các vùng địa lý, theo những chu kỳ trong năm. Nhiệt độ có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự sinh trưởng phát triển và sự phân bố các cá thể, quần thể, quần xã. Nhiệt độ còn ảnh hưởng đến các yếu tố khác của môi trường như độ ẩm, đất …
Sự khác nhau về nhiệt độ trong không gian và thời gian đã tạo ra những nhóm sinh thái có khả năng thích nghi khác nhau.
4.3. Nước và độ ẩm
Căn cứ vào nhu cầu thường xuyên về nước, người ta chia thực vật ra thành bốn nhóm là thực vật thủy sinh (sống hoàn toàn trong nước như rong, tảo với thân dài, mảnh, lá mảnh và dài, mô khí phát triển, lỗ khí nhiều); thực vật ưa ẩm (mọc ở các vùng bờ ao, đầm lầy, ruộng lúa …); thực vật cần độ ẩm trung bình (cần nhiệt độ, ánh sáng, dinh dưỡng vừa phải và phổ biến khá rộng); thực vật chịu hạn (những cây vừa chịu nóng, ưa sáng và có khả năng tự tích lũy nước hoặc điều tiết nước, ít thoát hơi nước, như họ xương rồng, họ thầu dầu, họ dầu, họ hòa thảo …).
Nước có vai trò quan trọng trong đời sống của các sinh vật. Trong cơ thể sinh vật thì khoảng 60-90% khối lượng là nước. Nước cần cho các phản ứng sinh hóa diễn ra trong các cơ quan, mô và tế bào của các sinh vật, nước là nguyên liệu cho cây quang hợp, là phương tiện vận chuyển của các chất vô cơ, hữu cơ, vận chuyển máu và chất dinh dưỡng ở động vật. Nước còn tham gia vào quá trình trao đổi năng lượng và điều hòa nhiệt độ cơ thể.
Độ ẩm tương đối là yếu tố quyết định tốc độ mất nước do bay hơi, là một yếu tố sinh thái quan trọng đối với thực vật ở trên cạn. Trên thực tế, ảnh hưởng của độ ẩm tương đối thường khó tách rời ảnh hưởng của nhiệt độ.

 4.4.Không khí-Gió

Gió có ảnh hưởng rõ rệt đến nhiệt độ, độ ẩm của môi trường dẫn đến sự thay đổi thời tiết, ảnh hưởng đến sự thoát hơi nước của thực vật. Gió có vai trò rất quan trọng trong phát tán vi sinh vật, bào tử, phấn hoa, quả, hạt thực vật … đi xa.
Nhân dân ta có câu ca dao “Gió Đông là chồng lúa chiêm, gió Bắc là duyên lúa mùa” để nói lên mối quan hệ giữa lúa và gió. Gió Đông Nam thổi từ biển Đông vào làm cho thời tiết ấm, nhiều hơi nước, gây mưa. Lúa chiêm theo thời vụ trước đây (ở đồng bằng Bắc bộ) là thứ lúa được cấy từ trước tết âm lịch, gặt vào tháng 6. Khi gió Đông thổi tới (cuối mùa xuân), trời ấm, có mưa làm cho lúa chiêm tươi tốt, đẻ nhánh khỏe và trổ bông. Gió Bắc là gió Đông bắc từ vùng cao áp Xibêri tới mang tính chất lục địa khô và lạnh. Lúa mùa theo thời vụ cũ là thứ lúa được cấy từ cuối tháng 6, gặt vào cuối tháng 10, tháng 11. Khi gió Bắc đến sớm (cuối tháng 10) khí hậu trở nên mát mẻ, có lợi cho sinh trưởng và phát triển của lúa mùa. Ngoài ra, có gió thì lúa mới thụ phấn được.
Loài cỏ lăn sống trên bãi biển có quả xếp tỏa tròn quanh một trục, khi gió thổi mạnh, cụm quả bị gẫy và lăn trên bãi cát, lăn đến đâu rụng quả đến đấy, nhờ đó mà chúng phân bố rất rộng trên các bãi biển nhiệt đới châu Á, châu Phi, châu Đại dương. Gió giúp cho sự vận chuyển của nhiều động vật, như chồn bay, cầy bay có khả năng lượn nhờ gió .v.v…
Tuy nhiên, nếu gió mạnh sẽ gây hại cho động vật, thực vật và phá hủy môi trường (gió mạnh, bão làm hạn chế khả năng bay của động vật. Ong mật chỉ bay khi gió có tốc độ 709 m/giây, muỗi 3,6 m/giây).
Không khí cung cấp khí oxy (O2) cho sinh vật hô hấp sinh ra năng lượng dùng cho cơ thể. Thực vật lấy khí cacbonic (CO2) từ không khí dưới tác dụng của ánh sáng mặt trời tạo ra chất hữu cơ. Không khí chuyển động (gió) có ảnh hưởng đến nhiệt độ, độ ẩm.

 4.5.Các chất khí và pH

CO2 và pH: CO2 cùng với nước tham gia tổng hợp chất hữu cơ, là chất đệm giữ pH môi trường nước trung tính. Trong môi trường nước, CO2 tồn tại ở dạng:
Ca(HCO3)2  CaCO3 + CO2 + H2O
O2 cần cho sự hô hấp của các sinh vật (trừ sinh vật kị khí bắt buộc). Nguồn oxy trong thủy vực là do oxy khuếch tán từ không khí (nhờ gió và sự chuyển động của nước).
Nitơ (N2): Là thành phần bắt buộc của protid-chất đặc trưng cho sự sống, cung cấp năng lượng cho cơ thể, tham gia cấu tạo ADP, ATP.
Phospho (P): Thiếu phospho, động vật mềm xương, còi xương, liệt nửa thân sau. Tỉ lệ thích hợp đối với N/P trong nước là 1/23.
Canxi (Ca): Hàm lượng Ca cao ngăn chặn sự rút các nguyên tố khác nhau ra khỏi đất. Ca cần cho sự thâm nhập của NH4+ và NO3- vào rễ. Tôm có thể sống được ở nước lợ hoặc nước ngọt hoàn toàn nhưng phải giàu Ca.

Trước:
Sau:

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Bạn đang xem Tác động của một số yếu tố sinh thái lên sinh vật